Tổng truy cập:125289
 Đang Online6
Tri thức ngành giáo dục trong phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam *Đoàn Nam Chung (15/10/2017)
 

Tóm tắt: Đội ngũ trí thức ngành giáo dục nằm trong cơ cấu chung của trí thức Việt Nam và là bộ phận hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ này có ý nghĩa quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nền kinh tế tri thức nói riêng, trong đó có việc đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo.

1.                     Mở đầu

Để phát huy tốt hơn vai trò của đội ngũ trí thức, hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết số 27 – NQ/TW (ngày 6/8/2008) “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nghị quyết này là sự cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Đảng về phát triển đội ngũ trí thức. Một bộ phận quan trọng của tri thức là tri thức ngành giáo dục. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức ngành giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo.

Đội ngũ trí thức ngành giáo dục là những người, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn và kỹ năng sư phạm. Đội ngũ trí thức ngành giáo dục là lực lượng quan trọng nhất trong việc đào tạo lực lượng ngày càng đông đảo hơn, và chất lượng ngày càng cao hơn tham gia. Đội ngũ trí thức ngành giáo dục có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của đất nước nói chung và ngành giáo dục nói riêng.

2. Thực trạng đội ngũ trí thức ngành giáo dục

2.1. Về số lượng và cơ cấu

Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng ta, giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, đội ngũ nhà giáo và cũng hết sức được quan tâm. Trong 10 năm qua, nhìn chung quy mô giáo dục nước ta ở tất cả các cấp, bậc học đều tăng. Số lượng nhà giáo và tính đến năm 2014, tổng số giáo viên, giảng viên cả nước là 1,24 triệu (tăng so với năm 2013 là 14.383 giáo viên), trong đó gồm: 277.684 giáo viên mầm non, 856.730 giáo viên phổ thông, 11.020 giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 91.420 giảng viên đại học, cao đẳng và khoảng 300 nghìn cán bộ quản lý giáo dục các cấp[1].

Bảng 1: Tổng số giáo viên cả nước

 

2005

2011

2012

2013

2014

2015

GV phổ thông

771

830.9

828.1

847.5

855.2

856.7

GV đại học, cao đẳng

47.613

74.573

84.109

87.682

91.633

91.420

GV trung cấp chuyên nghiệp

13.937

18.085

19.956

18.344

11.515

11.020

(Đơn vị tính: nghìn người)

Nguồn Tổng cục Thống kê

Tuy số lượng ngày càng tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. So với các mức trong khu vực tỷ lệ số lượng giáo viên trê số học sinh nhất là ở bậc đại học còn thấp.

Bên cạnh đó, còn có sự bất hợp lý trong cơ cấu đội ngũ nhà giáo, theo cấp, bậc học, theo chuyên môn, ngành nghề và vùng miền. Ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tuy còn gặp nhiều khó khăn trong việc điều động giáo viên, nhưng do có chính sách ưu đãi (phụ cấp giáo viên công tác ở vùng khó khăn) nên cơ bản có đủ số lượng giáo viên và cán bộ quản lý.

2.2. Về chất lượng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ:

Đội ngũ nhà giáo từng bước đạt chuẩn trình độ ở đào tạo, trong đó một phần đáng kể đã đạt trình độ trên chuẩn. ở phần lớn nhà giáo năng lực sư phạm được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ở phổ thông, đổi mới phương pháp đào tạo ở dạy nghề, cao đẳng, đại học. Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp đều được nâng lên theo chuẩn và vượt chuẩn, nhất là ở phổ thông, cán bộ quản lý có học vị cử nhân gần như đạt 100%,. Ở cao đẳng, đại học, tỷ lệ giáo viên có học vị thạc sĩ, tiến sĩ đạt đạt từ 20%-50%. Hiện nay, trong số 91.420 giảng viên đại học, cao đẳng, có 517 người có học hàm giáo sư, 3000 người có học hàm phó giáo sư và 9562 người có học vị tiến sĩ[2]. Công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ (theo các chương trình, dự án) cho cán bộ quản lý các cấp những năm qua đã được quan tâm, phần nào nâng cao năng lực quản lý trong các cơ sở, ở các cấp quản lý giáo dục. Tính đến năm 2013, đã có trên 30.000 lượt nhà giáo và cán bộ quản lý được tập huấn nghiệp vụ (do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức); riêng đội ngũ cán bộ quản lý trường phổ thông có tới hơn 13.000 lượt người được tham dự chương trình liên kết Việt Nam-Singapore[3]. Đến tháng 6/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tuyển và cử đi học nước ngoài được 1013 giảng viên bằng ngân sách[4]; điều đó góp phần nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ trí thức ngành giáo dục.

Đội ngũ trí thức ngành giáo dục không ngừng đổi mới sáng tạo chuyên môn, nghiệp vụ, bước đầu tiếp cận phương pháp giáo dục và phương thức quản lý tiên tiến. Ở các cơ sở giáo dục mầm non đã có những dấu hiệu tốt về việc tổ chức chăm sóc, nuôi dạy trẻ theo phương pháp khoa học. Ở các cấp học phổ thông đã có những thay đổi lớn về phương pháp soạn bài, giảng bài, tổ chức giáo dục theo chủ đề, chủ điểm, giáo viên biết khơi gợi tính tích cực, tự giác của học sinh. Công tác đào tạo nghề cũng đã bám sát nhu cầu xã hội, giảm bớt lý thuyết, tăng thực hành, gắn kết cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất. Các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học đã hướng vào phương thức đào tạo tiên tiến, khắc phục kiểu dạy học nhồi nhét kiến thức hàn lâm sang hướng dẫn, tổ chức sinh viên tự học, tự nghiên cứu. Đến nay, việc đổi mới tuy chưa được như mong muốn, chưa xóa bỏ được nếp tư duy giáo dục xơ cứng, mệnh lệnh, áp đặt, nhưng cũng đã có tác động tích cực. Nhìn chung, phương pháp giáo dục, phương pháp đào tạo của giảng viên và phương thức quản lý của cán bộ quản lý đang có chuyển biến tích cực, có những nét mới,

2.3 Về phẩm chất đạo đức

Đa số nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục vẫn giữ được phẩm chất  đạo đức nghề nghiệp trong sự phát triển phức tạp của cơ chế thị trường. Xã hội luôn đặt ra những yêu cầu rất cao về phẩm chất đạo đức của nhà giáo. Bởi lẽ, sản phẩm của giáo dục là con người, người đi giáo dục cũng phải có đạo đức; đạo đức của nhà giáo có ý nghĩa quan trọng tới việc hình thành và phát triển nhân cách của người học. Người thầy giáo chân chính dạy học trò không chỉ bằng vốn tri thức, hiểu biết, mà còn bằng chính nhân cách đạo đức trong sáng của mình, để cảm hóa, để giáo dục và khai sáng. “Dạy chữ” là quan trọng, nhưng việc “dạy người” còn quan trọng hơn. Mục đích của việc học đã được UNESCO khẳng định: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”, nói cách khác, học để làm người. Cho nên người học thường lấy hình ảnh các nhà giáo làm hình mẫu để noi theo. Nhiệt huyết, say mê, lương tâm, trách nhiệm, sự tận tụy, tấm gương học tập và rèn luyện cùng nhân cách trong sáng của người thầy sẽ tạo một dấu ấn vô cùng sâu đậm trong tâm hồn các thế hệ học sinh. Trong cơ chế thị trường, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nhân tố quyết định cho những thành công của giáo dục nước nhà, đóng góp quan trọng vào việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh một bộ phận đội ngũ trí thức ngành giáo dụccòn suy thoái về đạo đức. Một số giáo viên chưa thật sự tâm huyết với nghề, trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm hạn chế;

3. Nguyên nhân

Một là, thiếu một chiến lược và quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức ngành giáo dục cơ bản và dài hơi. Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức ngành giáo dục phải được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, gắn bó hữu cơ và trở thành điều kiện của chiến lược cán bộ. Chiến lược ấy phải bao gồm đầy đủ các phương diện từ đầu tư phát triển hệ thống giáo dục; đào tạo, bồi dưỡng đại học và sau đại học ngang tầm với khu vực, thế giới; phát hiện, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nhân tài; hệ thống nhất quán các chính sách về lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng; phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ gắn với thu hút và phát huy tiềm năng đội ngũ trí thức; chính sách đãi ngộ…

Hai là, hạn chế về các chính sách cụ thể trong từng lĩnh vực như: chưa có chính sách đồng bộ và hợp lý về phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài, lúng túng và thiếu đồng bộ trong chính sách lựa chọn, cử cán bộ trẻ, sinh viên ưu tú đi đào tạo ở nước ngoài và sử dụng họ sau khi đào tạo; các trường đại học trong nước có chất lượng thấp về đào tạo, nghiên cứu khoa học, chưa đạt chuẩn quốc tế...

Ba là, chính sách đãi ngộ chưa thật rõ ràng, đồng bộ, không hợp lý và không đủ để đáp ứng các yêu cầu về điều kiện làm việc. Bởi vậy, nhiều người có tài lại thường vươn lên rất khó khăn, dẫn đến một bộ phận thoái chí, ít hy vọng thay đổi hoàn cảnh. Một bộ phận trí thức ngành giáo dục có trình độ chuyên môn cao đã lựa chọn việc phục vụ các cơ quan nghiên cứu khoa học, công nghệ nước ngoài để phát huy tối đa năng lực công tác. Việc đầu tư kinh phí cho nghiên cứu khoa học vừa ít, vừa chia xẻ manh mún, phương thức quản lý lạc hậu, bất cập, quá câu nệ vào những thủ tục phức tạp, không chú ý khuyến khích hiệu quả. Những chính sách và cơ chế quản lý hoạt động giáo dục và đào tạo đã lạc hậu, chậm đổi mới...

4.     Giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ngành giáo dục

Một là, Cần nhận thức đúng vai trò của đội ngũ trí thức ngành giáo dục trong sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Để phát triển giáo dục, cần phải có sự tương hỗ của nhiều yếu tố: nguồn tài chính, nguồn lực con người, cơ sở vật chất, sự hỗ trợ của xã hội. Trong các yếu tố đó là nhân tố không thể gì thay thế được, họ chính là điều kiện tiên quyết đảm bảo chất lượng giáo dục quốc gia. Mục tiêu chung của nền giáo dục nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện: có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và trình độ cao về nghề nghiệp, Trong quá trình thực hiện mục tiêu chung, mỗi cấp bậc học, mỗi môn học đều có mục tiêu phù hợp. Nhà giáo là một chủ thể có vai trò quan trọng hàng đầu trong quan hệ giữa người dạy và người học, đây là mối quan hệ trọng tâm của giáo dục; trong môi trường giáo dục.

Hai là, Cần đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức ngành giáo dục.  Đào tạo giáo viên và phải hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chủ yếu cho sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Cần tổng kết sâu sắc, toàn diện mô hình đào tạo trong các trường, các khoa sư phạm, đồng thời đánh giá, rút kinh nghiệm về một số mô hình đào tạo khác; kết hợp học tập mô hình đào tạo giáo viên từ các nước có nền giáo dục tiên tiến để xây dựng mô hình đào tạo giáo viên phù hợp với điều kiện và yêu cầu hiện nay của đất nước. Đổi mới sâu sắc phương thức đào tạo theo hướng dạy cho nhà giáo biết cách tự tìm kiếm kiến thức, rèn kĩ năng sư phạm, không ngừng tu dưỡng phẩm chất đạo đức nghề giáo, có khả năng thích ứng thực tiễn giáo dục. Đổi mới nội dung, chương trình, phương thức bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý một cách khoa học, bảo đảm tính hiệu quả, thiết thực, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở từng cấp, bậc học. Công tác bồi dưỡng phải hướng tới sự khuyến khích tính tự giác, tích cực tự học, tự bồi dưỡng, khả năng thích ứng với những biến đổi của giáo dục trong nước và thế giới.

Ba là, Cần tập trung qui hoạch, nâng cấp các trường, khoa sư phạm, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý. Muốn có đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giỏi, trước hết phải xây dựng mạng lưới trường sư phạm, khoa sư phạm, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý đủ mạnh; vì vậy cần tiến hành một số biện pháp như:  Xác định cấp độ đào tạo giáo viên phù hợp với xu thế phát triển giáo dục của đất nước (từ cao đẳng trở lên). Dự báo về nhu cầu nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn toàn quốc, gắn với cấp học, môn học, theo từng vùng, miền, địa phương; từ đó xác định quy mô đào tạo, tuyển dụng, bảo đảm tính phù hợp, khắc phục tình trạng thất nghiệp của sinh viên sư phạm. Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường, khoa sư phạm theo hướng chuẩn hóa trình độ đào tạo, có phương pháp đào tạo hiện đại, có phẩm chất sư phạm thật sự “mô phạm” để giảng dạy và giáo dục sinh viên thành nhà giáo mẫu mực trong tương lai. Tăng cường sự liên kết, phối hợp đào tạo giữa các trường sư phạm, các khoa sư phạm với các trường, các khoa ngoài sư phạm. Nhà nước bảo đảm nguồn ngân sách cho các trường, các khoa sư phạm có thể thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ở từng cấp học, bậc học.

Bốn là, Cần có chính sách đặc biệt đối với đội ngũ trí thức ngành giáo dục. Xây dựng chế độ lương và phụ cấp ưu đãi hợp lý và thảo đáng cho nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chế độ lương và phụ cấp được tính trên cơ sở hiệu quả công việc nhằm tạo ra tính nỗ lực phấn đấu hết mình của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đối với công việc đảm nhiệm. Xây dựng qui trình tuyển dụng giáo viên, giảng viên, bổ nhiệm cán bộ quản lý giáo dục phù hợp với đặc trưng từng cấp, bậc học, sát thực tế vùng, miền. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, xây dựng các chính sách ưu đãi và chế độ nhà công vụ đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và ở các trường chuyên biệt; quan tâm hơn nữa tới việc đào tạo giáo viên người dân tộc thiểu số.

5.     Kết luận

Thực tế 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế trí thức Việt Nam trong đó có đội ngũ trí thức ngành giáo dục đã đóng góp to lớn vào quá trình phát triển đất nước. Bằng lao động sáng tạo của mình, trí thức ngành giáo dục đã góp phần đào tạo những lớp người lao động (học viên, sinh viên) cho xã hội. Đó là nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai gần, những người có năng lực làm chủ công nghệ tiên tiến, có khả năng đổi mới và hiện đại hoá công nghệ truyền thống, từng bước sáng tạo những công nghệ mới, hiện đại, phù hợp với con người, với điều kiện và môi trường Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước có nhiều đổi mới, việc phát triển đội ngũ nhà giáo theo hướng chuẩn hoá, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là vô cùng cần thiết.

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Phạm Tất Dong (2011), Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2.     Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3.     Ngô Xuân Tùng (2002), Kinh tế tri thức – Xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

4.     Đức Vượng (2014), Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 



[1] Tổng cục Thống kê, niên giám thống kê năm 2015.

[2] Mai Phương, Việt Nam có bao nhiêu Giáo sư, Tiến sĩ trong các trường ĐH, CĐ?”, Báo Điện tử VietQ.vn, ngày 16/8/2014.

[3] Đào Nguyên Phúc: “Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục: thực trạng và giải pháp”, Báo Điện tử Tuyên giáo, ngày 10/6/2014.

[4] Hồng Hạnh: “Hơn 500 giáo sư “gánh” tới 471 trường ĐH, CĐ”, Báo Điện tử Dân trí, ngày 19/8/2014.

 


Tin mới
Đăng ký môn học trực tuyến