Tổng truy cập:136725
 Đang Online6
Học tập và vận dụng phong cách quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Th.s Trần Thị Hoa Lý (16/01/2018)
 

Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên cán bộ đảng viên “phải từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Người phê phán tệ xa rời quần chúng, lên mặt “quan cách mạng” cửa quyền, mệnh lệnh, ức hiếp nhân dân với kiểu thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều”.

Phải từ nơi quần chúng mà ra

Phong cách quần chúng là một trong những phẩm chất nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách này của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ quan niệm “Nước ta là nước dân chủ, dân là chủ và làm chủ, cán bộ, đảng viên là công bộc của dân. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Người xưa nói, quan làm công bộc của dân, ta cũng có thể nói, Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên, Chính phủ bao giờ cũng đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết thảy”.

Người nói: “Nước lấy dân làm gốc, gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[1] do đó, Bác thường căn dặn các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, phải thể hiện tinh thần trách nhiệm trước nhân dân.

Trong suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về gần dân, học dân, kính trọng phục vụ nhân dân. Người nói: “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”[2].

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên rằng, nhân dân là người làm nên lịch sử, thành công của cách mạng. Nhân dân là người chủ đất nước, do đó, mỗi đảng viên, cán bộ ở bất cứ cương vị nào, làm công việc gì đều phải “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ muốn xứng đáng phải làm được việc. Muốn làm được việc phải được dân tin, dân phục, dân yêu”[3]. Do vậy, trong mọi hoạt động của người cán bộ, đảng viên phải luôn dựa vào sức mạnh của dân, xuất phát từ lợi ích của nhân dân.

Bác khuyên cán bộ đảng viên “phải từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Người phê phán tệ xa rời quần chúng, lên mặt “quan cách mạng” cửa quyền, mệnh lệnh, ức hiếp nhân dân với kiểu “thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón, không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác”, việc gì cũng từ “trên dội xuống”, dùng mệnh lệnh, chỉ thị để lãnh đạo, dẫn đến  “Những chỉ thị, nghị quyết cấp trên gửi xuống các địa phương có thực hiện được hay không, các đồng chí cũng không biết đến”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi, đến chốn” .

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự gần gũi, sâu sát quần chúng của người cán bộ cách mạng là hết sức cần thiết, nhờ đó mà cán bộ, đảng viên mới không mắc bệnh chủ quan, không quan liêu, đại khái.

Khi có dịp về thăm địa phương, nhà máy, công trường, Người thường không báo trước là mình đi. Người thường xuống ngay hiện trường sản xuất, làm việc của người lao động, thăm nơi ăn, chốn ở, nhà kho nhà bếp, khu vệ sinh, giếng nước sau đó mới có buổi làm việc với lãnh đạo địa phương, đơn vị.

Tất cả vì lợi ích của quần chúng

Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên khi thấy cách tổ chức và cách làm nào không phù hợp với quần chúng thì phải kịp thời đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Bác nói: “Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại...”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn đội ngũ cán bộ phải luôn sâu sát quần chúng, xuất phát từ quần chúng để rèn luyện, điều chỉnh tác phong, phương pháp làm việc; phải luôn luôn chống thói làm việc tuỳ tiện, chủ quan, coi thường quần chúng. Những căn bệnh này phá hoại mối quan hệ giữa cán bộ với quần chúng, làm cho quần chúng mất lòng tin, chán ghét cán bộ.

Người cho rằng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải hiểu sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước , nhưng quan trọng hơn là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu được rõ ràng những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chính là đem lại “lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”.

Để làm được như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn sâu sát quần chúng để học cách nói, cách viết, cách làm sao cho phù hợp với quần chúng, biết giải quyết những vấn đề thiết thực có liên quan cụ thể tới đời sống của quần chúng, đó mới là một người cán bộ thực sự sâu sát quần chúng, thực sự hiểu dân, yêu dân, kính trọng dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các cán bộ, đảng viên phải biết dựa vào quần chúng để xây dựng kế hoạch cho sát, cho đúng, từ đó huy động được tiềm năng, sức mạnh của quần chúng thực hiện thắng lợi kế hoạch. Người từng nói: Dân ta rất thông minh, biết giải quyết mọi công việc một cách nhanh chóng mà nhiều cán bộ nghĩ mãi không ra “Nếu lãnh đạo khéo thì việc gì khó khăn mấy và to lớn mấy, nhân dân cũng làm được”. Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ phải thành tâm học hỏi quần chúng, kiên trì trong việc giáo dục, giác ngộ, lãnh đạo quần chúng “Muốn cho dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói.

Dựa trên ý kiến và đề nghị của dân, chúng ta phải sắp đặt lại cho ngăn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành. Như vậy, vừa nâng cao trình độ dân chúng, mà cũng vừa nâng cao kinh nghiệm của mình. Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh cụ thể của địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành”.

Đối với người lãnh đạo, phong cách quần chúng không chỉ trong quan hệ với dân, mà còn thể hiện trong quan hệ của cấp trên với cấp dưới, của cán bộ lãnh đạo với cán bộ, đảng viên bình thường. Hiểu dân là để hiểu cấp dưới được chính xác hơn, hiểu cấp dưới là để hiểu dân được đầy đủ hơn. Càng hiểu dân và càng hiểu cấp dưới, người lãnh đạo càng hiểu chính mình và huy động được tối đa tiềm năng, sức mạnh của quần chúng, của cấp dưới,  rút ra được những điều bổ ích để bổ sung cho chủ trương, chính sách đã được đề ra, Người căn dặn người cán bộ lãnh đạo phải“ khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng”.

Để dân biết, dân tin, dân làm theo, mỗi cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong gương mẫu, phải “miệng nói, tay làm”, thống nhất lời nói với hành động. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thực hiện phương châm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, nghiêm túc thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết đấu tranh với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xa xỉ. Có như thế người cán bộ cách mạng mới được dân mến, dân tin, dân phục, mới có thể công tâm, sâu sát, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân.

Phong cách gần dân, sát dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học lớn cho mọi ngành, mọi người học tập và làm theo để nâng cao hiệu quả công việc. Đối với ngành giáo dục, phong cách gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt có ý nghĩa.

Nhận thức được điều ấy và vận dụng thường xuyên vào công tác tiếp xúc, gần gũi với học sinh, sinh viên, giúp cho giáo viên nắm rõ nhu cầu, khả năng tiếp thu của học sinh, sinh viên từ đó xây dựng chương trình và cách truyền thụ kiến thức phù hợp, tạo sự hứng thú học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục.

 

 [1]:Hồ Chí Minh toàn tập,Nxb Chính trị quốc gia ,Hà nội ,2000,tập 5,tr 879

 [2]: Hồ Chí Minh toàn tập,Nxb Chính trị quốc gia ,Hà nội ,2000,tập 4,tr 55

 [3]:Sdd ,tập 5 tr 394.


Tin mới
Đăng ký môn học trực tuyến